Định nghĩa
Cả hai đều là một phần của giá trị danh nghĩa, thu ở mỗi phía của một giao dịch. Ở bậc cơ bản của perp, taker trả 0,045 % và maker trả 0,015 %; trên spot, các mức cơ bản là 0,070 % và 0,040 %. Mỗi người dùng có một bậc phí duy nhất cho mọi tài sản, cả hợp đồng vĩnh cửu, hợp đồng vĩnh cửu HIP-3 và spot, đọc từ khối lượng trượt 14 ngày được chốt vào cuối mỗi ngày theo UTC, trong đó khối lượng có trọng số đếm spot hai lần. Khối lượng của tài khoản con được tính về tài khoản chính và mọi tài khoản con dùng chung bậc ấy; khối lượng của một vault được đếm riêng.
Nhiều thứ làm hạ mức phí. Các bậc chạy từ trên 5M $ khối lượng có trọng số (taker 0,040 %, maker 0,012 %) tới trên 7B $ (taker 0,024 %, maker 0 %). HYPE đã stake cắt đi một phần cố định, từ 5 % khi trên 10 HYPE tới 40 % khi trên 500.000. Chiết khấu giới thiệu áp cho 25M $ khối lượng đầu tiên của một người dùng. Và một maker cung ứng hơn 0,5 %, 1,5 % hay 3,0 % khối lượng maker 14 ngày thì được trả hoàn 0,001 %, 0,002 % hay 0,003 % thay vì phải trả phí, ghi có trên mỗi giao dịch. Tài liệu nói các khoản phí được hướng trọn về cộng đồng: HLP, quỹ hỗ trợ và những bên triển khai.
Có hai thứ nằm bên cạnh mức phí của sàn. Phí builder do chương trình gửi lệnh đặt cho từng lệnh, được xử lý onchain như một phần của logic phí và bị chặn ở 0,1 % với hợp đồng vĩnh cửu và 1 % với spot; tài khoản chuẩn thuận một mức tối đa cho một địa chỉ builder bằng approveBuilderFee, mà Hyperliquid buộc phải do ví chính ký và không bao giờ do một khóa tác nhân ký. Của chúng tôi là một trong số đó, bằng 0,05 % giá trị danh nghĩa của mỗi lệnh trên cả hai chân, và được nêu tên trong mọi báo giá. Funding tuyệt không phải một khoản phí của sàn: nó được trả giữa các trader, và không có khoản phí nào được thu trên các khoản thanh toán ấy.
Mức nào được áp thì theo điều lệnh đã làm, không theo điều nó định làm. Một lệnh thị trường luôn là taker. Một lệnh giới hạn cắt qua sổ lệnh thì khớp ngay và cũng là taker; chỉ một lệnh giới hạn chịu chờ mới làm maker được. Những lệnh thị trường mà một lần thanh lý gửi vào sổ lệnh trả mức taker, và tài liệu ghi rằng không có phí tất toán nào trên các lần thanh lý ngoài mức ấy.
Công thức
fee = notional * rate, trong đó giá trị danh nghĩa là giá khớp nhân khối lượng, và mức phí là mức maker hay taker của bậc bạn đang ở. Bậc được đọc là (14d weighted volume) = (14d perps volume) + 2 * (14d spot volume).
Ví dụ
Một ví dụ, bằng số tròn, trên 10.000 $ giá trị danh nghĩa ở bậc cơ bản. Một taker trả 0,045 %, tức 4,50 $; một maker trả 0,015 %, tức 1,50 $. Một vòng đi về lấy ở cả hai chân tốn 9,00 $, còn chờ lúc vào rồi lấy lúc ra tốn 6,00 $. Một khoản phí dịch vụ 0,05 % mỗi chân, như của chúng tôi, thêm 5,00 $ và 5,00 $. Vậy cùng giao dịch ấy tốn 19,00 $ hoặc 16,00 $ trước funding, tức 0,19 % hay 0,16 % giá trị danh nghĩa của nó.